Trong trường học, học sinh cũng thường vứt rác vào ngăn bàn, chân cầu thang, dưới sân trường… Nhiều bạn học sinh có thói quen ăn quà vặt, sáng muộn giờ nên mang đồ ăn lên lớp, ăn xong tiện tay xả rác ở mọi nơi. → Những hành vi đó không phải là cá biệt. Người ta xả rác như các quyền được thế, thành một cố tật xấu khó sửa chữa. 2. Nguyên nhân: Muôn kiếp nhân sinh là câu chuyện về hành trình trải nghiệm quá khứ tiền kiếp của doanh nhân tài chính Mỹ tên Thomas, được thể hiện dựa trên các quan điểm nhân sinh, [2] quan niệm về nguồn gốc, cách vận hành của luật nhân quả, quy luật luân hồi của vũ trụ, [3] nhưng kết hợp với những kiến thức về khoa học, triết học, lịch sử và văn hóa. [4] Nhận thức và hành vi sử dụng ngôn ngữ mạng của sinh viên việt nam hiện nay luận văn ths. xã hội học. pdf; 131 trang ; Khoa học Xã hội & Nhân văn Hà Nội là ít nhất do trình độ ngoại ngữ chưa đáp ứng (58,3%), do trình độ tin học còn yếu (29,,2%), do chưa biết cách để Facebook पर Trung tâm Dịch vụ Sinh viên - Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật Tp.HCM को और देखें 1/25 Võ Văn Hát, Phường Long Trường, Quận 9, TP.HCM - Vị trí: Nhân Viên Kỹ thuật - Số lượng: 10 - Trình độ: Đại học/Cao đẳng/Trung cấp Tóm tắt quá trình tạo nên con người và thế giới muôn loài của hai vị thần. Từ đó nhận xét về cách xây dựng cốt truyện và nhân vật trong Prô-mê-tê và loài người; Nêu nội dung bao quát của truyện Prô-mê-tê và loài người. vqEYA. Chủ đề văn học vị nhân sinh là gì Văn học vị nhân sinh là sự kết hợp giữa nghệ thuật và triết học, nhằm nói lên giá trị nhân văn và ý nghĩa cuộc sống. Tác phẩm văn học vị nhân sinh giúp người đọc hiểu rõ hơn về bản chất con người và cách tìm kiếm ý nghĩa trong cuộc sống. Cùng với sự phát triển của văn học vị nhân sinh, xu hướng ẩm thực và du lịch cũng đang được khai thác để tăng cường trải nghiệm văn hóa cho người lụcVăn học vị nhân sinh là khái niệm gì? Tác phẩm văn học nào nổi tiếng được coi là tư tưởng về văn học vị nhân sinh? Tác giả nào đã đưa ra lý thuyết văn học vị nhân sinh? Văn học vị nhân sinh ảnh hưởng đến văn học hiện đại như thế nào? Nêu ví dụ về tác phẩm văn học hiện đại mang đậm tư tưởng về văn học vị nhân sinh?YOUTUBE Học Văn Vị Nghệ Thuật Hay Vị Nhân Sinh? 2023Văn học vị nhân sinh là khái niệm gì? Văn học vị nhân sinh là một khái niệm trong triết học văn học, bao gồm ý tưởng rằng nghệ thuật, đặc biệt là văn học, có thể và nên được sử dụng để nâng cao đời sống xã hội và con người, thậm chí đưa ra giải pháp cho các vấn đề xã hội. Để hiểu rõ hơn về khái niệm này, ta cần nghiên cứu và phân tích các tác phẩm văn học có chủ đề liên quan đến vị nhân sinh, như tiểu thuyết \"Truyện Kiều\" của Nguyễn Du hay truyện \"Chí Phèo\" của Nam Cao. Những tác phẩm này tập trung vào việc sử dụng tâm trí và tình cảm để chứng minh mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống con người. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm văn hóa được hiểu theo ba nghĩa rộng, bao gồm cả nghệ thuật, khoa học, công nghệ, văn hóa vật thể; nghĩa hẹp chỉ đề cập đến trình độ học vấn và văn hóa phẩm cá nhân; cũng như nghĩa chung chỉ về toàn bộ văn hóa một dân tộc. Tóm lại, văn học vị nhân sinh đánh dấu sự phát triển và tăng cường sự hiểu biết về nghệ thuật và văn hóa trong đời sống con người, giúp cho mỗi cá nhân hoàn thiện hơn và đóng góp tích cực hơn vào xã phẩm văn học nào nổi tiếng được coi là tư tưởng về văn học vị nhân sinh? Trong văn học Việt Nam, có một tác phẩm nổi tiếng được xem như tư tưởng về văn học vị nhân sinh đó là \"Tắt đèn\" của nhà văn Ngô Tất Tố. Tác phẩm này được viết vào năm 1946, kể về cuộc đời của một người nghèo khổ, luôn phải đấu tranh để sống sót và giành được chút hạnh phúc trong cuộc đời. Bằng cách miêu tả hành trình tim đường sống của nhân vật chính, tác giả Ngô Tất Tố đã khắc họa được những góc khuất trong xã hội như sự bất công, mất cân bằng trong phân phối tài nguyên, cũng như những đau thương của những người lụy tình, lụy danh, lụy tiền. Tác phẩm \"Tắt đèn\" đã góp phần xây dựng lên văn học Việt Nam, đồng thời mang lại sự tiếng tăm cho nhà văn Ngô Tất giả nào đã đưa ra lý thuyết văn học vị nhân sinh? Tác giả đưa ra lý thuyết văn học vị nhân sinh là người Pháp Auguste Comte 1798-1857. Ông là một nhà toán học, vật lý học, thiên văn học, nhà lý thuyết xã hội và triết học thực chứng. Ông khẳng định rằng văn học không chỉ là việc sáng tạo nghệ thuật mà còn là cách để hiểu thế giới xung quanh chúng ta, tác động đến tư duy và hành động của con người. Văn học vị nhân sinh được coi là lý thuyết tổng thể với mục đích nhằm đưa ra những giải pháp cho các vấn đề xã hội và định hướng cho sự tiến bộ của loài người. Tuy nhiên, lý thuyết này hiện tại không còn được sử dụng nhiều trong giới triết học và văn học hiện học vị nhân sinh ảnh hưởng đến văn học hiện đại như thế nào? Văn học vị nhân sinh là một khái niệm được đặt ra bởi nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, để chỉ tầm quan trọng của việc viết văn học đối với cuộc sống và nhân sinh của con người. Văn học vị nhân sinh là sự kết hợp giữa những yếu tố văn học và những giá trị và ý nghĩa sâu sắc của cuộc sống. Văn học hiện đại Việt Nam đã được ảnh hưởng rất nhiều bởi thế hệ các nhà văn đã bước đầu khám phá và phát triển khái niệm văn học vị nhân sinh. Các tác phẩm văn học hiện đại như \"Dế Mèn Phiêu Lưu Ký\" của Tô Hoài, \"Số Đỏ\" của Vũ Trọng Phụng hay \"Nỗi Buồn Chiến Tranh\" của Bảo Ninh đều có sự hiện diện rõ ràng của tư tưởng văn học vị nhân sinh. Những tác phẩm này là những tác phẩm không chỉ thể hiện một phần cuộc đời và tâm hồn của tác giả mà còn giúp ta hiểu rõ hơn về tác động của xã hội, của cuộc sống đến con người. Văn học vị nhân sinh là một trong những yếu tố đã giúp cho văn học hiện đại Việt Nam đạt được một vị trí đặc biệt trong cộng đồng văn học quốc tế. Những tác phẩm này đã giúp cho văn học hiện đại Việt Nam được đánh giá là có tính chất sâu sắc và thể hiện được những giá trị đặc trưng của dân tộc Việt ví dụ về tác phẩm văn học hiện đại mang đậm tư tưởng về văn học vị nhân sinh?Một ví dụ về tác phẩm văn học hiện đại mang đậm tư tưởng về văn học vị nhân sinh là tiểu thuyết \"Cho tôi xin một vé về tuổi thơ\" của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh. Tác phẩm này được xem là một trong những tác phẩm nổi tiếng và gây tiếng vang lớn trong giới văn học Việt Nam. Trong tiểu thuyết, tác giả đã miêu tả cuộc sống và cuộc phiêu lưu của nhân vật chính - một cậu bé trên con đường tuổi thơ, thông qua đó tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giữ gìn và bảo vệ tuổi thơ trong cuộc sống hiện đại, đồng thời thể hiện tư tưởng về sự trưởng thành và khát khao tìm kiếm về bản Văn Vị Nghệ Thuật Hay Vị Nhân Sinh? 2023Văn học vị nhân sinh luôn là niềm tự hào của văn học Việt Nam. Năm 2023, với sự bùng nổ của văn học trẻ, chúng ta đã có thêm nhiều tác phẩm xuất sắc, lấy cảm hứng từ cuộc sống và mang đến những giá trị nhân văn sâu sắc. Điều đó giúp khán giả hiểu hơn về tình cảm, nhân sinh và trân trọng thêm tình yêu đất nước. Chủ Nghĩa Vị Nhân Sinh 2023Chủ nghĩa vị nhân sinh đang được nhiều người quan tâm và ứng dụng trong đời sống. Đó là cách sống đạo đức, giá trị tình thương và quan hệ tình cảm giữa con người với nhau và với thiên nhiên. Những tác phẩm mang thông điệp này truyền cảm hứng, động viên và thêm hiểu biết về tầm quan trọng của các giá trị nhân sinh trong cuộc sống. Vũ Trụ Văn Học Môn Văn và Tầm Quan Trọng Với Cuộc Đời 2023Vũ trụ văn học luôn là chủ đề hấp dẫn đối với người yêu văn học và khoa học. Vào năm 2023, một loạt các tác phẩm đa dạng về vũ trụ đã xuất hiện, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về vũ trụ và vẻ đẹp của nó. Chúng mang đến những giá trị đáng kinh ngạc, khai sáng và giúp ta cảm nhận được rất nhiều kỳ quan của vũ trụ. Tia sáng dành cho bạn trẻ số 1, ngày 25-5-2002, đăng bài dịch một bức thư Mỹ “có rồi hẵng cho” với lời đề tựa đầy ấn tượng “Xin mọi người đọc thuật kỹ và thật bình tâm, đặt một ấm nước, lúc đọc xong là lúc nước sôi, pha bình trà, uống và ngẫm nghĩ về người Mỹ, về quan điểm đạo đức xem nó ra răng”. May mắn là bức thư khá ngắn nên đọc không mất nhiều thời gian cho lắm. Tuy nhiên vấn đề nó đặt ra thì không hề đơn giản là sáng tạo có vị nhân sinh hay không. Tôi xin mạnh dạn trình bày quan điểm cá nhân về vấn đề thú vị này, với mục đích góp thêm một tiếng nói nhằm rộng đường dư tắc đạo đức mới là gì?Đó là bức thư của H. Ayn Rand, người Mỹ gốc Nga, tác giả của nhiều cuốn sách, gửi Tom Girdler, nhà sản xuất thép người Mỹ. Quan điểm của Ayn Rand là “có rồi hẵng cho”, về thực chất là một quan điểm đúng đắn. Vấn đề là dường như Ayn Rand cho rằng, “có” ở đây chỉ là có các sản phẩm vật Rand viết “Sai lầm lớn nhất của thế giới chính là ở chỗ chúng ta đã chấp nhận và tin rằng chủ nghĩa vị nhân sinh, tức là lấy việc phục vụ người khác như một nguyên tắc tối cao và coi việc đặt người khác lên trên bản thân mình là một biểu hiện của đức hạnh”. Và “chúng ta luôn được dạy dỗ rằng, đức hạnh cao nhất là “cho”, chứ không phải là “tạo”. Nhưng người ta không thể cho cái chưa được tạo ra. Do vậy nhu cầu về người sáng tạo phải có trước nhu cầu về người hưởng lợi. Người sáng tạo phải đứng trên bất kỳ người theo chủ nghĩa vị nhân sinh nào humanitarian”.Theo Ayn Rand, những nhà sáng tạo và sản xuất như Thomas Edison hay Henry Ford không đặt ra mục đích sáng tạo vì con người. Khi Edison phát minh bóng đèn điện, ông không nghĩ tới những người dân nghèo khó. Girdler sản xuất thép chỉ để sản xuất, chứ không phải để bán thép rẻ cho mọi người. Những người như Girdler “không bị dao động bởi cái động cơ phục vụ người khác mà cả thế giới tin vào”, họ sáng tạo chỉ để sáng tạo, “chỉ đi theo một động cơ đơn giản, mang tính cá nhân, đi theo một tình yêu ích kỷ và cao quí đối với công việc của chính mình. Đó chính là động cơ đạo đức chân chính nhất và là đức hạnh lớn nhất của con người”.Hơn thế nữa, khi Girdler viết trong cuốn Quyền được lao động của mình rằng “Tôi phản đối bất cứ ai có quan điểm rằng những người như tổng thống Roosevelt là những người đáng kính hơn, tốt hơn ít vụ lợi hơn người khác, bởi vì họ không phải có nghĩa vụ kiếm sống”, Ayn Rand cho rằng Girdler chưa đi đến rốt ráo vấn đề. Ông “phản đối bất cứ ai có quan điểm rằng nhà chính trị và những người làm công tác xã hội không tồi tệ hơn những người phải lao động để kiếm sống”. Vì thế ông nhấn mạnh, “những kẻ theo chủ nghĩa nhân văn – trên nguyên tắc và cả trên thực tế - là những kẻ ăn bám bởi mối quan tâm hàng đầu của họ là phân phát chứ không phải là sản xuất; nói đúng ra thì là quan tâm đến việc phân phát những gì mà họ không sản xuất ra. Những kẻ ăn bám thì không bao giờ đáng kinh hay tốt cả”. Và Ayn Rand kết luận, những nhà sản xuất như Girdler không bao giờ chứng minh được rằng họ tốt hơn nhiều, đáng kính trọng hơn nhiều những người làm công tác xã hội và chính trị, “cho đến khi chúng ta có một nguyên tắc đạo đức mới”!Đầu tiên tôi muốn lưu ý rằng người dịch không thấy đề tên rất vội vàng trong việc thuật và công bố bức thư, có thể do quá say sưa với nó. Vì thế ngay tựa đề cũng mang màu sắc văn nói. Sao không dịch là “Có rồi hãy cho”? Rồi những câu văn thiếu trong sáng, lặp từ, không gẫy gọn....Đầy rẫy trong bức thư chỉ mấy trăm chữ. Phải chăng quan điểm của Ayn Rand mang tính đột phá tới mức, khi đọc và lĩnh hội nó người dịch dường như mất tự chủ, mất sự phê cần thiết – nguyên tắc hàng đầu của thao tác nghiên cứu khoa học? Thiết nghĩ có gì khó khăn lắm đâu trong việc nhận chân cái quan điểm dường như rất “tân kỳ” của Ayn nói ngay rằng, thực chất nguyên tắc đạo đức mới của cái bà người Mỹ gốc Nga đó là, phải “tạo” hay “sản xuất” mới là người tốt. Còn người theo chủ nghĩa nhân văn và hoạt động xã hội, gồm cả nhà chính trị, là kẻ ăn bám, vì họ chẳng tạo hay sản xuất cái bóng đèn như Edison hay cái ô tô như Ford. Họ chỉ dây máu ăn phần khi phân phát cái mà họ không tạo hay sản xuất được! Muốn biết quan điểm này đúng sai, ta hãy đem nó áp dụng vào thức hạn ngay chính tại Mỹ, chỉ khoảng 20% dân số là người tốt, vì họ sản xuất. Còn 80% còn lại là kẻ ăn bám vì họ chỉ làm dịch vụ, phân phối, thậm chí chỉ viết văn làm thơ, hoạt động xã hội, tôn giáo và từ thiện hay những việc “ăn bám” khác. Rồi cái nước Mỹ giầu mạnh kia, họ sáng tạo nhiều và sản xuất đến một phần ba của cải toàn thế giới, chắc chắn họ đáng kính và tốt hơn những nước sáng tạo và sản xuất ít hơn, chẳng hạn như Việt Nam. Và Bill Gates thì tốt hơn Mẹ Teresa, vì vị nữ thánh thì chẳng sản xuất được gì ngoài việc mang tình thương đến cho dân nghèo Ấn Độ trong tư cách một người nhân văn chủ nghĩa, tức đích thị là kẻ ăn bám!Đó là cái gì nều không phải là nguyên tắc tôn thờ vật chất và rẻ rúng các giá trị tinh thần của giới trọc phú Mỹ? Rõ ràng tác giả bức thư rất thiều hiểu biết về hoạt động của xã hội loài người, nhất là khía cạnh phân công lao động và hợp tác cùng có lợi. Và thật đáng tiếc, tuy là nhà văn những Ayn Rand lại khinh rẻ chủ nghĩa nhân văn, khinh rẻ lòng tốt và chủ nghĩa vị nhân sinh – điều ngược với thiên chức của văn học. Tôi là nhà vật lý nên không dám tranh lời các văn nghệ sĩ mà chỉ bàn luận trên góc độ khoa học tự nhiên, theo tinh thần tích hợp văn hoá đang được chuộng trên toàn thế giới, mà ở đây là thuyết tiến hoá Darwin, được xem là có ảnh hưởng lớn nhất tới tư duy hiện đại theo tạp chí Người Mỹ khoa học, số 7-2000.Theo thuyết tiến hoá, con người có bản năng thiện tính, xuất phát từ thực tế là chúng ta được tự nhiên trang bị kém nên không thể tự phục vụ cho mọi nhu cầu cá nhân. Và đó là lý do giống như các động vật xã hội tính khác, chúng ta chỉ tồn tại được khi đảm trách một nhiệm vụ cụ thể theo sự phân công lao động, nguồn gốc của sự hợp tác xã hội. Như đối tượng của tiến hoá, sự tồn tại của một xã hội phụ thuộc chủ yếu vào sự phối hợp nhịp nhàng giữa các thành viên. Sự hợp tác cũng có vai trò quan trọng không kém sự cạnh tranh trong việc thúc đẩy xã hội loài người. Và sự hợp tác thì nhất định dựa trên lòng vị than. Nói cách khác, quá trình tiến hoá cổ vũ lòng vị tha, sự phân công lao động và sự hợp tác cùng có lợi thuyết tiến hoá hiện đại hoá, cho rằng không chỉ các cá nhân mà các nhóm xã hội cũng là đối tượng của tiến hoá xem Cấu trúc thuyết tiến hoá, NXB Belknap, 2002. Có nghĩa lòng tốt và chủ nghĩa nhân văn có nguồn gốc rất sâu xa từ chính quá trình tiến hoá và là những tính chất căn bản giúp con người có thể sinh tồn và phát triển. Vì thế đối lập sự sáng tạo với chủ nghĩa nhân văn là một sai lầm không thể chấp nhận được về mặt khoa mặt đạo lý, xem những người nhân văn chủ nghĩa là ăn bám cũng là sai lầm nghiêm trọng. Tự do, bình đẳng, bắc ái chính là tiêu chí căn bản của một xã hội bắt đầu hiểu bản chất con người. Chúng ta sinh ra ai cũng có quyền bình đẳng, nhưng tạo hoá không thể công bằng với mỗi một cá nhân. Tạo hoá không thể phân phát trí tuệ và kỹ năng như nhau cho tất cả mọi người. Chúng ta không thể chọn cha mẹ, chọn gia cảnh để sinh ra. Có nghĩa con người sinh vốn lại không bình đẳng. Vậy thì ai sẽ mang lại cho chúng ta sự bình đẳng nếu không phải là những người theo chủ nghĩa nhân văn- những người quan tâm không chỉ tới những cá nhân xuất chúng mà còn tới từng mảng đời bất hạnh – nền tảng quan trọng của một xã hội tìm kiếm sự công bằng? Và để đảm bảo sự đánh giá công bằng đối với ngưới sản xuất, có thể dẫn ra một quan điểm, ai đóng nhiều thuế và tạo nhiều việc làm cho xã hội là người tốt. Giá trị của một người chính là ở chỗ người đó phục vụ xã hội như thế nào. Mà phục vụ thì không chỉ là “Tạo” hay “sản xuất”, mà quan trọng hơn cả là tổ chức được một xã hội dân chủ, công bằng, phát triển và văn minh, nơi lợi ích riêng của mỗi cá nhân kết hợp nhuần nhị với lợi ích chung của toàn xã hội. Sẽ sai lầm nếu cho rằng sức sống của nhà sáng tạo hay nhà sản xuất lâu bền hơn của nhà chính trị. Truyền thuyết Nghiêu thuần xưa là một trong những bằng chứng rõ ràng cho điều đó. Cũng xin nhắc lại chuyện cũ tại nước ta hơn mười năm trước. Khi đó có người cho rằng văn nghệ và chính trị đều là những hình thái ý thức xã hội nằm trên thượng tầng kiến trúc nên chỉ tác động qua lại chứ không thể chi phối nhau. Có thể họ đã nhầm giữa chính trị và tư tưởng chính trị. Với tư cách toàn bộ những hoạt động có liên quan đến mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, các tầng lớp xã hội, chính trị có khả năng chi phối hầu như tất cả các hoạt động, kể cả năng lực sáng tạo của xã hội. Đó là lý do Nguyễn Trãi phò Lê Lợi hay Ngô Thì Nhậm theo Quang Trung. Phò chính thống là nét tự nhiên của trí thức, vì như thế họ sẽ có điều kiện phục vụ xã hội và con người, cũng như phổ biến cái đạo của họ một cách trực tiếp, thuận lợi, nhanh chóng và rộng rãi nhất. Kẻ sĩ xưa luôn tìm minh chủ để phò, vậy nay minh chủ là ai? Xin được trở lại chủ đề khi có xin nói thêm, “nguyên tắc đạo đức mới” đó chắc chắn bị phản đối ngay tại nước Mỹ. Nên biết rằng chính Edison quan tâm sâu sắc tới nhu cầu xã hội, tớ người nghèo bằng nhiều phát minh cụ thể như nhà bê tông đúc sẵn, phao cứu sinh cho lính thuỷ thời Chiến tranh thế giới thứ II, qui trình tuyển Quặng ít ô nhiễm, ô tô điện,...xem Người Mỹ khoa học, số 2-1997. Ông chính là một người vị nhân sinh chân chính với tất cả những gì cao quí nhất cần phải có. Hay Bill Gates đã lập quĩ từ thiện hàng tỷ đô là và tuyên bố đến 50 tuổi sẽ hiến toàn bộ tài sản cho quĩ này. Còn theo Michael Dertouzos, người đã hơn 30 năm lãnh đạo Phòng thí nghiệm khoa học tính toán, Viện công nghệ Massachusetts, một cái nôi của công nghệ thông tin, thì phương Tây đã sai lầm khi chia tách công nghệ và chủ nghĩa nhân văn 300 năm trước; và nay chính là thời khai sáng mới để nhập chúng lại với nhau xem Người Mỹ khoa học, số 7 – 1997 và Time, số đặc biệt tháng 1 – 1998. Không nên quên rằng, chủ nghĩa đơn phương... mới chỉ là một nửa sự thật về người Mỹ. Một nửa khác nằm ở Luther Kinh, Morrison, Edison và hàng triệu người nhân văn chủ nghĩa yêu công lý, chuộng tình thương và giầu lòng sáng tạo khác. Muốn “ngẫm nghĩ về người Mỹ, về quan điểm đạo đức xem nó ra răng”, cần suy nghĩ nghiêm túc, toàn diện và sâu sắc, chứ không thể tuỳ tiện và giản lược như cái bà người Mỹ gốc Nga ấy được. Và cho dù con người và xã hội Mỹ có hay đến đâu chăng nữa, những cái hay đó chưa chắc đã hợp với con người và xã hội khác, nhất là với phương nhu cầu của con ngườiNói đi thì cũng cần nói lại, tác giả Ayn Rand cũng có điểm đúng khi cho rằng trong lúc sáng tạo, những nhà sáng tạo chỉ đi theo một động cơ cao quí, có tính ích kỷ và đậm màu sắc cá nhân đối với công việc của riêng mình. Như lời Nguyễ Khải, trí thức là kẻ đại ích kỷ, bản thân hắn mà hắn còn không quan tâm ăn uống thất thường, lười tắm rửa, quần áo lôi thôi..., vậy hắn quan tâm được đến ai! Ta cũng thường nghe nói tới tháp ngà sáng tạo. Có thể hiểu rõ hơn điều đó khi nghiên cứu thang nhu cầu của nhà tâm lý Abraham Maslow 1908 -1970.Theo Maslow, nhu cầu con người được xếp thành hệ bậc thang. Tuỳ cách trình bày mà ta có thang năm hay thang bảy bậc, trong đó thang bảy bậc thì tiện lợi hơn. Bậc dưới cùng là các nhu cầu sinh lý như đói, khát, nóng, lạnh....Bậc thứ hai các nhu cầu an toàn và an ninh. Bậc thứ ba là các nhu cầu của cải, tình yêu và được thừa nhận. Bập tiếp theo là nhu cầu được kính trọng. Tiếp nữa là nhu cầu nhận thức Muốn biết, muốn tìm hiểu và khám phá. Cao vũ trụ như tính đối xứng, sự trật tự và vẻ đẹp ẩn giấu dưới những biểu hiện đó. Và ở bậc thang cao nhất là nhu cầu khám phá đến tận cùng khả năng đơn nhất của bản thân, theo nghĩa nó khác biệt với tất cả các cá nhân khác. Đạt tới bậc thang này là những người biết sử dụng một cách khác thường toàn bộ năng lực bản thân. Theo Maslow, đó là Spinoza, Jefferson, Lincoln, Einstein, Edison hay Roosevelt...Và đáng buồn thay cho Ayn Rand, trong số các đặc tính của những nguời tự biến thành hiện thực đó, ngoài khả năng văn xem Nhập môn Hilgard của tâm lý học, NXB đại học Harcourt Brace, lần xuất bản thứ 12, 1996, trang 446-467. Vì lẽ đơn giản sáng tạo không chỉ là công việc của bộ óc mà còn của trái tim. Những người có khả năng sáng tạo nhất cũng chính là những người có tấm lòng nhân bản, vị tha, vị nhân sinh nhất. Họ chỉ sáng tạo càng nhiều càng tốt mà không quan tâm tới việc bản thân được xếp ở đâu trong ký ức xã hội. Và họ cũng khiêm nhường không tự cho mình cao quí, đáng kính trọng, tốt hơn những người khác. Nếu thiếu tính khiêm nhường và lòng khoan dung, thiếu sự nhạy cảm với nỗi đau của con người, nếu ích kỷ và khoa trương, chắc chắn họ không thể sáng tạo. Thêm một lần nữa chúng ta thấy, đối lập sức sáng tạo với chủ nghĩa nhân văn là quan điểm không thể chấp nhận được. Vậy xin Ayn Rand và những ai đồng ý kiến hãy yên lặng để những con người xuất chúng đó thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng là cống hiến toàn bộ năng lực tuyệt vời của mình cho hạnh phúc toàn nhân loại. Chỉ theo nghĩa đó họ mới đáng kính trọng, mới là người tốt trong mắt mỗi chúng nói thêm là như bất cứ một lý thuyết tâm lý nào khác, thang nhu cầu Maslow cũng chịu nhiều chỉ trích. Người ta cho rằng, Maslow đúng với các cá nhân xuất sắc nhất, thành đạt nhất phương Tây. Với các cá nhân và các xã hội khác, thang Maslow không hoàn toàn đúng nữa. Và điều đó đúng với bản chất con người, đúng với bản chất của văn hoá. Con người và các nền văn hoá có nhiều nét khác biệt đến mức, ngoài một số chuẩn mực chung, không thể có một thang giá trị dùng được cho tất cả mọi người và mọi nền văn hoá. Ayn Rand đã rất sai lầm khi mang những tiêu chí đúng cho dưới 1% dân số ra để bắt hơn 99% còn lại phải theo, trong khi ngược lại mới là chuẩn đó có nghĩa cần loại bỏ thang Maslow? Không hẳn như vậy, nó vẫn có thể dùng như một tham khảo tốt. Chẳng hạn dựa vào đó có thể lý giải tại sao Tolstoy viết được Chiến tranh và hoà bình, vì ngoài những điều kiện khác, ông may mắn vượt qua năm bậc thang đầu tiên. Và đó cũng có thể là một lý do giải thích tại sao chúng ta chưa có một tác phẩm văn học xứng tầm với cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc. Thang Maslow mang nét duy vật và là minh hoạ tốt cho tinh thần của ông cha ta “có thực mới vực được đạo”.Nghệ thuật vị cái gì?Vấn đề chưa dừng ở đó. Trong bài “Sáng tạo, nhu cầu người nhất của con người” trên Tia sáng dành cho bạn trẻ số 2, một nhà văn đoạt giải thưởng nhà nước nhưng không nhận quay trở lại cuộc tranh luận nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh trên văn đàn nước ta 70 năm trước. Ông kể rằng năm 1992, trong cuộc hội thảo kỷ niệm 50 năm ngày thành ra đời cuốn Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, ông đã mạo muội hỏi các nhà lý luận phê bình văn học rằng, tại sao với quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật sai lầm, Hoài Thanh lại chọn được 45 nhà thơ tiêu biểu mà ngày nay chỉ thấy rơi rụng đâu có 5-7 người. Có nghĩa sự đánh giá và chọn lọc của cái ông chủ trương quan điểm nghệ thuật rất đỗi suy đồi ấy về cơ bản là chính xác! Còn những nhà phê bình kiên định quan điểm nghệ thuật vị nhân sinh thì chẳng làm được cái điều tương văn của chúng ta cho rằng, chỉ có hai cách lý giải hiện tượng nhất, Hoài Thanh không hề thực sự chủ trương “nghệ thuật vị nghệ thuật” mặc dù ông có tự nhận như vậy. Thậm chí sau này dưới sức ép nào đó, ông còn mấy lần công khai bầy tỏ sự hối hận sâu sắc về sai lầm chết người này. Thứ hai, quan niệm “nghệ thuật vị nghệ thuật” của ông là đúng, đúng đến nỗi ông là người duy nhất nhận ra chân lý. Nhà văn nhấn mạnh, ông thiên về khẳ năng thứ hai, tức xem nghệ thuật vị nghệ thuật là đúng. Điều đó cũng có nghĩa nghệ thuật vị nhân sinh là sai, dù ông không nói thẳng như vậy. Nhà văn đi đến kết luận này sau khi “đọc thật chậm” thư của Ayn Rand, cho thấy ông đồng ý với quan điểm rằng, con người đã rất sai khi coi trọng chủ nghĩa vị nhân sinh. Vị nhân sinh sai vậy vị nghệ thuật phải đúng! Rõ ràng dù đã đọc thật chậm những nhà văn vẫn bị lừa khi không biêt chính ông cũng bị xếp vào hạng ăn bám, vì Ayn Rand chỉ nói về “tạo” hay “sản xuất” các giá trị vật chất mà theo nhà văn cho rằng, “khác với những điều vẫn thường được rao giảng ra rả về “sự phục vụ”...bản chất của nghê thuật là thuần tuý, thuần tuý vì chính nó”. Do đó ông đồng tình với Ayn Rand "Hãy vì chính mình mà sáng tạo trước đã, để có rồi hẵng cho!”. Và ông cũng kêu gọi một nguyên tắc đạo đức mới, “một nguyên tắc đạo đức thật, không giả vờ, không dối trá, không mị dân”, trước khi hoà giọng cùng Ayn Rand phê phán những kẻ ăn bàm mà theo ông thì “có bao giờ thiếu” và lắm mồm hơn tất cả”.Tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa trước khi bàn về học thuật rằng, nhà văn của chúng ta chưa hiểu quan điểm của Ayn Rand, cái quan điểm mà lẽ ra với tư cách một nhà văn có thiên chức đề cao chủ nghĩa nhân văn, ông phải kịch liệt phê phán và bác bỏ. Chẳng lẽ chỉ vì sự giống nhau ở lớp vỏ ngôn ngữ của thuật ngữ “vị nhân sinh” mà ông lại nhầm lẫn đến vậy?Quay trở lại với vị nghệ thuật hay vị nhân sinh, đầu tiên chúng ta cần nhìn cuộc tranh luận giữa Hải Triều và Hoài Thanh bằng con mắt lịch sử. Nhớ tới cảnh nước mất nhà tan, dân ta rên xiết dưới ách nô lệ, thực dân Pháp thì bày đủ trò để thanh niên ta quên nỗi nhục mất nước mà tiêu tan ý chí đấu tranh, ta sẽ hiểu vì sao Hải Triều được ủng hộ. Tiếp theo, không như nhà văn quả quyết rằng, đánh giá chính xác của Hoài Thanh chỉ có thể do quan điểm vị nghệ thuật là đúng, quan điểm vị nhân sinh là sai; tôi cho rằng tính chính xác đó xuất phát chủ yếu từ con mắt xanh, từ khả năng cảm thụ và phát triển của nhà phê bình. Rất nhiều người khác cũng vị nghệ thuật, tại sao họ không thẩm định được như Hoài Thanh? Quan điểm nghệ thuật chỉ là kim chỉ nam mà thôi, muốn đến được Nam Cực, cần thêm rất nhiều thứ khác ngoài cái la bàn. Chỉ với quan điểm nghệ thuật đúng mà thành công trong lý luận phê bình văn học thì có lẽ cả nước trở thành phê bình! không nên quên rằng việc cảm thụ văn chương độc lập tương đối với trình độ học thuật của người thưởng thức. Người bình dân Việt Nam xưa trình độ thấp, quan điểm nghệ thuật không thể xem là chuẩn xác. Nhưng điều đó không ngăn cản việc họ sáng tác được cả một kho tàng tục ngữ, ca dao vô giá; không ngăn cản việc họ thưởng thức Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm hay thơ Hô Xuân Hương. Đó chính là sự kỳ diệu của văn chương, nghệ thuật –sự kỳ diệu của điều giản đơn ai cũng có thể hiểu, theo lời Einstein ca ngợi vua hề Charlot, tất nhiên là với mức độ khác cho đến tận hôm nay mà vẫn còn băn khoăn xem nghệ thuật vị cái gì thì thật là khác thường. Cũng chẳng biết nói sao nữa khi nhà văn cứ nhất định cho rằng một số nhà khoa học vị nhân sinh giải thích hình vẽ các con vật trên vách hang động là để người nguyên thuỷ tập bắn, tập đâm chúng, luyện khả năng cho các cuộc đi săn. Nhà khoa học nào giải thích như vậy? Và tại sao ông dị ứng với vị nhân sinh đến vậy?Tôi nghiên cứu vật lý nên không rõ nghệ thuật ra đời như thế nào. Nhưng là người tin tiến hoá luận Darwin nên tôi mạo muội cho rằng, nghệ thuật hội hoạ như thế trước hết là để phục vụ các lễ nghi mang tính tín ngưỡng của người nguyên thuỷ. Đến lượt mình, các lễ nghi đó lại có ý nghĩa sinh tồn. Có giả thuyết cho rằng tín ngưỡng bắt nguồn từ chính bản năng sinh tồn của con người xem Vũ trụ nghệ thuật, NXB Clarendon – Oxford, 1995. Như vậy ngay từ nguồn gốc phát sinh, nghệ thuật đã vì con người, đã vị nhân sinh, chứ không phải “bản chất của nghệ thuật là thuần tuý, thuần tuý vì chính nó”. Và nó chỉ có thể vì con người, vị nhân sinh khi nó đúng là nghệ thuật, tức khi nó vị nghệ thuật. Theo thiển ý, vị nghệ thuật là thuộc tính, vị nhân sinh là mục đích. Chỉ với thuộc tính đó mới đạt tới mục đích đó. Thực ra nhà văn của chúng ta tự mâu thuẫn đấy thôi, chứ ông cũng rất vị nhân sinh khi nhận định “tính người của con người bắt đầu khi nó biết sáng tạo vì chính nó, hoàn toàn vô tư, chẳng “vị” cái gì hết”. Con người “biết sáng tạo vì chính nó” tức biết sáng tạo vì con người, sáng tạo vị nhân sinh chứ chẳng lẽ lại vị con trâu hay con bò?.Nói như giới nghệ thuật học , nghệ thuật có các chức năng nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ và giải trí. Điều đó chứng tỏ nghệ thuật có mục đích vị nhân sinh, vì con người, phục vụ con người. Và nghệ thuật chỉ có thể hoàn thành tốt điều cao quí nếu trước hết nó vị nghệ thuật, có tính nghệ thuật, đúng là nghệ thuật. Phải chăng đó chưa phải là những điều rất đỗi tự nhiên?Cuối cùng xin nhấn mạnh thêm một lần nữa rằng, nhân văn là thuộc tính căn bản của con người, một thuộc tính đã được gìn giữ và lưu truyền qua hàng triệu năm tiến hoá sinh học và tiến hoá văn hoá. Thuộc tính đó không hề mâu thuẫn với sức sáng tạo của toàn xã hội và của mỗi cá nhân. Và như mọi yếu tố khác của văn hoá như nền sản xuất, khoa học hay tôn giáo, nghệ thuật bao giờ cũng vì con người, phục vụ con người, cũng vị nhân sinh từ trong bản nhật lúc0859 SA 04/10/2016 Xây dựng - Đô thị vị nhân sinh, cuốn sách của tác giả Jan Gehl trong đó giải thích rõ ràng các phương pháp và công cụ mà ông sử dụng để cấu hình lại các cảnh quan thành phố để phát triển thành các đô thị sống động, an toàn, bền vững và lành mạnh, thực sự vì người dân. Một thành phố chỉ tồn tại nếu cư dân của thành phố đó sử dụng các không gian công cộng liên tục và ngược lại những cư dân đó sẽ chỉ làm như vậy nếu họ cảm thấy thành phố sạch sẽ, an toàn và thú vị với họ. Gehl nhấn mạnh vào việc bắt đầu với yếu tố con người thay vì là giao thông khi kiến tạo hoặc tái tạo các khu vực đô thị có ý nghĩa nổi bật. Trong ngôn ngữ cuộc sống đời thường, không mấy khi người ta phân biệt rạch ròi hai từ nhân sinh và dân sinh, chúng thường được dùng tương đương nhau. Tuy nhiên, nếu lật mở từ điển cũng như tham khảo trên các tài liệu, chúng ta sẽ thấy một sự khác biệt nhất định. Nhân sinh là sự sống của con người trong đó nhân là người, sinh là sự sống. Nhân sinh thường được dùng trong cụm từ nhân sinh quan để chỉ quan niệm, cách nhìn nhận thành hệ thống về cuộc đời, cuộc sống con người. Dân sinh thì có nhiều nghĩa hơn Dân sinh có thể là sinh kế, sinh hoạt của nhân dân trong đó dân là nhân dân, sinh là sinh kế, có thể là sự sống của người dân trong đó dân là người dân, sinh là sự sống, và cũng có thể là đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung. Như vậy, vị nhân sinh và vị dân sinh đều có nghĩa chung là vì cuộc sống của con người, lấy cuộc sống con người làm tôn chỉ, làm mục đích để hình thành những ý tưởng và phát triển những hoạt động. Nhưng trong một chừng mực nào đó thì có lẽ vị nhân sinh mang tính khái quát cao hơn khi đề cập đến con người nói chung, thậm chí là nhân loại với những triết lý về cuộc đời, về ý nghĩa, và về mục đích sống. Chẳng hạn như chúng ta thường nhắc đến nghệ thuật vị nhân sinh khẳng định bản chất xã hội của nghệ thuật, chủ trương gắn nghệ thuật với đời sống xã hội, chống lại các khuynh hướng nghệ thuật thoát ly cuộc sống. Còn trong kiến trúc, khái niệm vị nhân sinh thường được dùng một cách lưỡng dụng, nghĩa là vừa có tính hợp lý tiện dụng của công năng khi kiến trúc đặt nhu cầu của người sử dụng lên hàng đầu và thỏa mãn tối đa những nhu cầu đó, vừa thể hiện quan điểm sáng tạo kiến trúc một cách thi vị, tràn đầy cảm xúc thông qua một nhân sinh quan nhất định về môi trường sống của con người. Trong khi đó vị dân sinh lại đề cập đến những khía cạnh đời thường nhất của cuộc sống người dân như sinh kế, hay sinh hoạt của họ. Nói cách khác, dân sinh thể hiện những gì rất thiết thực, không màu mè, liên quan đến những nhu cầu cơ bản nhất, thường là vật chất, của mỗi con người. Nhà cách mạng Phan Châu Trinh đã rất say mê với tư tưởng khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh lấy yếu tố dân làm gốc, trong đó hậu dân sinh nghĩa là làm cho đời sống của dân ngày càng no ấm, nền kinh tế quốc dân phát triển hậu là làm dày ra. Nói cách khác công cuộc khai dân trí và chấn dân khí chỉ có kết quả vững chắc khi biết làm cho đời sống của dân được đầy đủ, hùng hậu. Và kiến trúc vị dân sinh cũng là những gì thực dụng nhất nhằm giúp người dân có thể cải thiện cuộc sống của họ. Nói cách khác kiến trúc vị dân sinh đáp ứng các hoạt động sống thiết thực của người dân mà nhiều khi cũng chính là những nhu cầu sinh tồn thiết yếu nhưng không được quan tâm ghi nhận một cách chính thống hay chính danh. Từ câu chuyện của kiến trúc vị nhân/dân sinh, chúng ta phát triển thành câu chuyện của đô thị, bởi suy cho cùng, đô thị là tổng hòa của những kiến trúc. Khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, trong một cách tiếp cận từ dưới lên, nghĩa là từ những không gian đời thường nhất, thực tế nhất của các thành phố, chúng ta có thể cảm nhận sự tiến triển tư duy của đời sống xã hội đô thị hình như vẫn chậm hơn một nhịp so với những thành tựu kinh tế. Quan điểm làm đô thị để hỗ trợ sinh kế người dân từ thời đất nước còn khó khăn vẫn tồn tại, mặc dù thu nhập bình quân đầu người dân đô thị giờ đây đã được cải thiện đáng kể. Những không gian công cộng như lề đường, vỉa hè thay vì là nơi để thúc đẩy người đi bộ, đi xe đạp thì lại là nơi buôn bán, trông giữ xe, cơi nới hàng quán... Để rồi mỗi khi có chiến dịch giành lại không gian để đường thông hè thoáng thì chính những người dân lại phản ứng quyết liệt và cho rằng vỉa hè là nơi đem lại nguồn kinh tế chính cho nhiều gia đình, nhiều mảnh đời. Hay một câu chuyện khác, người dân mở các quán cà phê dọc theo đường tàu để rồi trở thành một trào lưu thu hút khách đến chụp ảnh, vui chơi ngay trong giới hạn hành lang an toàn đường sắt, bất chấp an toàn tính mạng của mình. Và đến khi chính quyền có các biện pháp ngăn chặn nhằm tránh những tai nạn có thể xảy ra thì người dân lại có đơn xin được phép tồn tại để đảm bảo nguồn sinh kế. Vậy là khi sinh kế được mang ra và trở thành cái cớ thì những nỗ lực để có thể xây dựng những đô thị văn minh hơn phần nào đã trở nên vô nghĩa. Rõ ràng là trong các ví dụ trên, chúng ta đã có một đô thị vị dân sinh, nhưng chính yếu tố vị dân sinh đó lại làm cho đô thị vẫn nhếch nhác, vẫn mất an toàn, là những điều trái với nguyên tắc vị nhân sinh vì sinh kế của người này lại gây phiền toái, bất an cho những người khác. Trong chiều ngược lại, khi nhìn từ trên xuống, từ những chiến lược, chính sách vĩ mô, có lẽ là hệ thống đô thị Việt Nam vẫn chưa thực sự có những triết lý, những nhân sinh quan về phát triển và tăng trưởng. Hầu hết không gian các đô thị vẫn phát triển một cách tự nhiên, theo bản năng, thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu trước mắt thay vì tính toán cho một tương lai lâu dài. Với đường biên đô thị được mở rộng không ngừng nghỉ, các thành phố béo phì trở thành hình ảnh khuếch trương cho sự phát triển. Sự gia tăng quy mô lẫn sự tích lũy cư dân đôi lúc lại không đi kèm với sự nâng cao các giá trị an sinh xã hội. Tuy nhiên, chúng ta cũng vẫn có một điểm sáng hiếm hoi là Đà Nẵng khi lấy phương châm và quyết tâm trở thành một thành phố đáng sống để làm kim chỉ nam cho các cách thức phát triển không gian và triển khai các hoạt động đô thị. Từ năm 2000, Đà Nẵng đã ban hành chương trình Thành phố 5 không - không có hộ đói, không có người mù chữ, không có người lang thang xin ăn, không có tệ nạn ma tuý, không giết người cướp của. Năm 2005, Đà Nẵng lại tiếp tục với Thành phố 3 có - có nhà ở, có việc làm, có nếp sống văn hoas văn minh đô thị. Và gần đây nhất, đề án thực hiện Chương trình Thành phố 4 an - an ninh trật tự, an toàn giao thông, an toàn thực phẩm, an sinh xã hội - đã được thông qua năm 2016. Rõ ràng là với chuỗi hành động 5 không - 3 có - 4 an, thành phố này ít ra đã cho thấy tính vị nhân sinh khi lấy sự hạnh phúc và an cư của người dân làm trọng tâm với mong muốn mang đến những giá trị tốt đẹp cho cuộc sống của mỗi người dân bởi thành phố này có khát vọng chứ không phải tham vọng. Như vậy, vị nhân sinh và vị dân sinh là hai yếu tố tồn tại song song và cần phải được đảm bảo đồng thời trong sự phát triển các đô thị. Vị nhân sinh ảnh hưởng đến những định hướng mang tính vĩ mô, dẫn đường cho sự vận động và vận hành tổng thể để hướng đến những giá trị nhân văn đô thị, nền tảng cho những kế hoạch phát triển dài hạn của thành phố. Vị dân sinh lại cho thấy những mối quan tâm vi mô của đô thị đến cuộc sống của mỗi cư dân, mỗi phận đời nhằm giúp họ vượt qua những khó khăn vật chất và mưu sinh cuộc sống trước mắt để vươn lên những thang bậc giá trị cao hơn. Và chúng ta cũng có thể thấy khi đô thị trở nên vị nhân sinh hơn thì các yếu tố dân sinh sẽ được đảm bảo hơn, và ngược lại, khi đô thị trở nên vị dân sinh hơn thì dần dần tính nhân văn đô thị càng rõ nét hơn. TS Trần Minh Tùng Phó Trưởng Bộ môn Kiến trúc dân dụng, Khoa Kiến trúc - Quy hoạch, Trường ĐH Xây dựng Nghệ thuật vị nhân sinh tiếng Pháp l’art pour la vie là lý thuyết khẳng định bản chất xã hội của nghệ thuật, chủ trương nghệ thuật gắn với đời sống xã hội và chính trị, chống lại các khuynh hướng nghệ thuật thoát ly cuộc sống, “nghệ thuật thuần tuý” coi hình thức là trên hết. Nghệ thuật vị nhân sinh là một luận điểm cơ bản và rất tổng quát của mỹ học duy vật. Bản thân nó bao gồm một hệ thống nhiều vấn đề rất trọng yếu như nghệ thuật và xã hội, chức năng của nghệ thuật, nghệ thuật và chính trị, tính giai cấp, tính nhân dân của nghệ thuật, sứ mệnh người nghệ sĩ,… mà việc giải quyết những vấn đề này lại gắn liền với những thành tựu của triết học và mỹ học duy vật của các thời đại. Do vậy, các cách lý giải trước khi có Chủ nghĩa Mác, kể cả của các nhà dân chủ cách mạng Nga ở thế kỷ XIX, đều chưa được triệt để và còn có những hạn chế nhất định. Dựa trên cơ sở triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử coi nghệ thuật là hình thái ý thức xã hội đặc thù, là loại sản xuất tinh thần đặc thù, chịu sự quy định của cơ sở kinh tế – xã hội, của đời sống tinh thần, tâm lý của xã hội, mỹ học ,mác-xít đã và đang giải quyết một cách khoa học, triệt để và toàn diện các vấn đề trên. Nghệ thuật vị nhân sinh là khẩu hiệu đấu tranh của những người theo quan điểm văn nghệ mác-xít ở nước ta chống lại phái “nghệ thuật vị nghệ thuật’’ trong cuộc tranh luận lớn về nghệ thuật thời kỳ Mặt trận Dân chủ 1936 – 1939. Trong cuộc tranh luận này, phái “vị nhân sinh” đã chứng minh rằng không có văn nghệ đứng ngoài đấu tranh giai cấp và không theo khuynh hướng nào. Nếu văn nghệ không làm lợi cho giai cấp này thì sẽ làm lợi cho giai cấp khác. Họ chủ trương, trong xã hội có áp bức bốc lột, nhà văn chân chính phải “đem ngòi bút lột trán cái xã hội hiện tại để cho dân chúng trông rõ nguồn gốc của mọi sự đau thương và để tìm lấy đường sống“. Mặc dù còn có thiếu sót, phái “nghệ thuật vị nhân sinh” đã giành được thắng lợi lớn. Lần đầu tiên ở Việt Nam, quan điểm văn nghệ mác-xít được truyền bá tương đối hệ thống, bước đầu đẩy lùi ảnh hưởng của khuynh hướng văn học thoát ly, cổ vũ các khuynh hướng văn học tiến bộ. 1. Giải thích2. Bàn luận “Cuộc đời là nơi xuất phát cũng là nơi đi tới của văn học” 3. Chứng minh “Cuộc đời là nơi xuất phát cũng là nơi đi tới của văn học” bằng những trải nghiệm khi đọc tác phẩm Nghị luận “Cuộc đời là nơi xuất phát cũng là nơi đi tới của văn học” Tố Hữu Mở bài Văn học nghệ thuật có vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của con người. Mỗi tác phẩm văn học đều có một sinh mệnh riêng, một đời sống riêng. Tác phẩm đến từ đâu và hướng tới nơi nào, tất cả đều do người nghệ sĩ và bạn đọc quyết định. Bàn về điều này, nhà thơ Tố Hữu từng khẳng định “Cuộc đời là nơi xuất phát cũng là nơi đi tới của văn học” Tố Hữu Thân bài 1. Giải thích “Cuộc đời là nơi xuất phát của văn học” Nội dung của các tác phẩm phải phản ánh được hiện thực, khám phá những vấn đề của cuộc sống. “Cuộc đời cũng là nơi đi tới của văn học” Văn học tác động trở lại cuộc đời, làm thay đổi nhận thức và tình cảm của con người để cuộc sống chung tốt đẹp hơn. Nhà thơ Tố Hữu khẳng định Văn học vị nhân sinh, vì cuộc đời mà văn học được sinh ra và cũng vì cuộc đời, vì con người mà văn học tiếp tục sứ mệnh xây dựng những thành lũy vững chắc cho tâm hồn con người. Trong đó, vai trò của người nghệ sĩ khá quan trọng. 2. Bàn luận “Cuộc đời là nơi xuất phát cũng là nơi đi tới của văn học” Người sáng tác chiêm nghiệm cuộc sống, lựa chọn đề tài từ hiện thực góp nên trang viết của mình. Họ phản ánh đời sống bằng cái tâm của người nghệ sĩ chân chính, không tô hồng hay bôi đen hiện thực đó. Tuy nhiên, người sáng tác không bê nguyên thực tại vào trang viết của mình, qua lăng kính nghệ sĩ, hiện thực lung linh sinh động hơn, có ý nghĩa hơn. Tiếng nói của văn học nghệ thuật sẽ đồng hành cùng con người đi về phía tương lai. Bởi trong mỗi tác phẩm, người nghệ sĩ gửi vào đó những lời nhắn, những thông điệp sống, giúp con người nhận ra mình để sống tốt đẹp hơn. Cho nên nghệ sĩ còn mang thiên chức “kĩ sư tâm hồn”. Tuy nhiên, những bài học về lẽ sống gửi trong mỗi tác phẩm không đơn thuần là thuyết lí khô khan, nhà văn, nhà thơ nói bằng hình ảnh, bằng nhạc điệu, bằng các tình huống độc đáo. Và họ thắp lên trong lòng bạn đọc những ngọn lửa ấm, ngọn lửa hướng thiện. 3. Chứng minh “Cuộc đời là nơi xuất phát cũng là nơi đi tới của văn học” bằng những trải nghiệm khi đọc tác phẩm Từ việc cảm nhận các tác phẩm đã đọc, học sinh chỉ ra tính đúng đắn của vấn đề đang giải quyết. Cảm nhận của học sinh cần chân thành, tinh tế, sâu sắc. Khuyến khích những bài viết cho thấy những phát hiện độc đáo của nhà văn đã thực sự có sức tác động mạnh mẽ đến người làm bài. – Tắt đèn – Ngô Tất Tố – Lão Hạc – Nam Cao – Trong lòng mẹ – Nguyên Hồng – Cô bé bán diêm – Andecxen Kết bài Trong cuộc sống muôn màu muôn vẻ, người nghệ sĩ phải có con mắt tinh, có trái tim giàu cảm xúc mói nhận ra những vẻ đẹp của con người hay của thiên nhiên, mới nghe được âm thanh của cuộc sống… để đưa lên trang viết của mình. Người nghệ sĩ cũng phải có khả năng sáng tạo đặc biệt, lao động ngôn từ không mệt mỏi để dệt nên tác phẩm có sức sống vượt thời gian. Chứng minh “Văn học là cuốn bách khoa toàn thư về cuộc sống” Chứng minh “Tác phẩm vừa là kết tinh của tâm hồn người sáng tác, vừa là sợi dây truyền cho mọi người sự sống mà nghệ sĩ mang trong lòng” Bài tham khảo Mở bài Văn học nghệ thuật có vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của con người. Mỗi tác phẩm văn học đều có một sinh mệnh riêng, một đời sống riêng. Tác phẩm đến từ đâu và hướng tới nơi nào, tất cả đều do người nghệ sĩ và bạn đọc quyết định. Bàn về điều này, nhà thơ Tố Hữu từng khẳng định “Cuộc đời là nơi xuất phát cũng là nơi đi tới của văn học” Tố Hữu Thân bài “Cuộc đời là nơi xuất phát của văn học” Nội dung của các tác phẩm phản ánh được hiện thực, khám phá những vấn đề của cuộc sống. “Cuộc đời cũng là nơi đi tới của văn học” Văn học tác động trở lại cuộc đời, làm thay đổi nhận thức và tình cảm của con người để cuộc sống chung tốt đẹp hơn. Nhà thơ Tố Hữu khẳng định Văn học vị nhân sinh – vì cuộc đời mà văn học được sinh ra và cũng vì cuộc đời, vì con người mà văn học tiếp tục sứ mệnh xây dựng những thành lũy vững chắc cho tâm hồn con người. Trong đó, vai trò của người nghệ sĩ khá quan trọng. Cuộc đời đúng là nơi xuất phát của văn học. Nhà thơ, nhà phê bình văn học Nguyễn Đình Thi cũng đồng quan điểm với nhà thơ Tố Hữu khi cho rằng “Tác phẩm nghệ thuật nào cũng mượn vật liệu ở thực tại”. Người sáng tác chiêm nghiệm cuộc sống, lựa chọn đề tài từ hiện thực góp nên trang viết của mình. Họ phản ánh đời sống bằng cái tâm của người nghệ sĩ chân chín không tô hồng hay bôi đen hiện thực đó. Tuy nhiên, người sáng tác không bê nguyên thực tại vào trang viết của mình, qua lăng kính nghệ sĩ, hiện thực trở nên lung linh sinh động hơn và có ý nghĩa hơn. Văn học là nơi in bóng của thời đại, nhà văn là thư kí trung thành của thời đại. Tác phẩm văn học, nghệ thuật, tự thân nó không thể xa rời hiện thực đời sống. Nhưng phản ánh hiện thực như thế nào, thì không phải là câu hỏi dễ trả lời. Không đơn giản chỉ là sự tả chân một cách cơ học, chưa nói rằng, tả chân đôi lúc cũng chưa hẳn là thấu đáo; và thực tiễn văn học, nghệ thuật cho thấy, thành tựu văn học, nghệ thuật phụ thuộc vào tài năng, quan niệm thẩm mỹ và sự thăng hoa cảm xúc của người nghệ sĩ. Mỗi nhà văn cũng là một thư kí trung thành của thời đại bới nếu không có hiện thực cuộc sống, mỗi nhà văn cũng không thể tự tưởng tượng ra những điều mới mẻ để viết. Kể cả chương viễn tưởng cũng là chiết xuất từ hiện thực những chất liệu cần thiết để hình thành nên. Không có tác phẩm nào mà không phản ánh hiện thực, cũng không có nhà văn nào có thể bước ra khỏi cuộc sống để viết. Đọc bài thơ Đồng chí của Chính Hữu, người đọc nhận ra ngay hoàn cảnh chiến đấu chống thực dân Pháp của quân và dân ta thời kì đầu thiếu thốn, trăm nghìn gian khó chưa thể giải quyết được, người lính còn chiến đấu trong tình trạng mất cân đối với kẻ thù. Đó là những ngày đầu khi ta chưa võ trang. Người đọc cũng nhận ra tinh thần vượt khó kiên cường, quyết chiến, quyết thắng kẻ thù, một lòng trung thành với đất nước của các chiến sĩ, dẫu gian nguy cũng không chịu lùi bước hay than vãn. Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải ra đời năm 1980, khi đất nước vừa đi qua chiến tranh. Nhưng cuộc sống chung vẫn còn nhiều khó khăn chiến tranh lại nổ ra ở hai đầu biên giới phía Bắc và Tây Nam Tổ quốc, bữa cơm còn độn khoai, nhiều nơi còn loang lỗ hố bom … Hiện thực ấy đi vào trang thơ của Thanh Hải, ông viết Mùa xuân người cầm súng Lộc giắt đầy trên lưng Mùa xuân người ra đồng Lộc trải dài nương mạ Tất cả như hối hả Tất cả như xôn xao Ấn tượng nghệ thuật ở đoạn thơ này là cách dùng điệp ngữ “mùa xuân”, lộc”, “tất cả” khiến cho lời thơ nhịp nhàng, hình ảnh mùa xuân tràn đầy sức sòng hiện ra rõ nét. Hình ảnh hoán dụ “người cầm súng”, “người ra đồng” gợi lên mùa xuân đất nước, người người hối hả tay súng, tay cày; vừa xây dựng vừa bảo vệ biên cương Tổ quốc. Từ láy “hối hả”, “xôn xao” diễn tả không khí rộn ràng, khẩn trương, náo nức của cả nước. Nhà thơ viết những dòng thơ lúc đang nằm trên giường bệnh, tai không thể nghe được âm thanh mùa xuân đất nước, mắt không thể nhìn thấy người người ra trận, ra đồng. Nhưng tác giả vẫn cảm nhận được hiện thực cuộc sống và thể hiện trên trang viết của mình. Cuộc đời cũng là nơi đi tới của văn học. Tiếng nói của văn học nghệ thuật sẽ đồng hành cùng con người đi đến tương lai. Bởi trong mỗi tác phẩm, người nghệ sĩ gửi vào đó những lời nhắn, những thông điệp sống, giúp con người nhận ra mình để sống tốt đẹp hơn. Cho nên nghệ sĩ còn mang thiên chức “kĩ sư tâm hồn”. Tuy nhiên, những bài học về lẽ sống gửi trong mỗi tác phẩm không đơn thuần là thuyết lí khô khan; nhà văn, nhà thơ nói bằng hình ảnh, bằng nhạc điệu, bằng các tình huống độc đáo. Và họ thắp lên trong lòng bạn đọc những ngọn lửa ấm, ngọn lửa hướng thiện. Đến với bài thơ “Nói với con” của nhà thơ Y Phương, tấm lòng của người nghệ sĩ dân tộc Tày dành cho con, cho quê hương; đem tiếng thơ của mình góp vào đời sống một viên đá con làm nên thành lũy tâm hồn con người trong những năm 1980. Ở đoạn thơ thứ hai, người cha nói với con về phẩm chất của đồng bào mình và cũng là lời trao gửi niềm tin của một thế hệ dành cho một thế hệ. “Người đồng mình thương lắm con ơi Cao đo nỗi buồn Xa nuôi chí lớn Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn Sống trên đá không chê đá gập ghềnh Sống trong thung không chê thung nghèo đói Sống như sông như suối Lên thác xuống ghềnh Không lo cực nhọc” Y Phương đã không hề rời xa hiện thực đời sống, cách nghĩ, cách làm của “người đồng mình”. Tất cả đã được phản ánh chân thực, sinh động trong những vần thơ tha thiết. Đồng thời tiếng thơ quay trở lại bồi dưỡng tâm hồn con người, làm đẹp cho quê hướng, đất nước. Nghĩa là nó trở lại với nguồn cội đã sản sinh ra nó. Nghĩa là văn học đã đi tới với hiện thực cuộc sống sinh động và tái sinh một cuộc sống mới. Qua phần phân tích trên, ta thấy rõ, “cuộc đời là nơi xuất phát và cũng là nơi đi tới của văn học”. Trong cuộc sống muôn màu muôn vẻ, người nghệ sĩ phải có con mắt tinh tường, có trái tim giàu cảm xúc mới nhận ra những vẻ đẹp của con người, của thiên nhiên, mới nghe được, cảm được những âm thanh sống động và những vang động âm thầm của cuộc sống để đưa lên trang viết mình. Người nghệ sĩ cũng phải có khả năng sáng tạo đặc biệt, lao động không mệt mỏi để dệt nên tác phẩm có sức sống vượt thời gian. Kết bài Văn học không đơn thuần là phản ánh hiện thực mà là sự nghiền ngẫm về hiện thực. Văn học thoát ra từ hiện thực cuộc sống để sau đó trở lại phục vụ cuộc sống. Nhận định của nhà thơ Tố Hữu có ý nghĩa đề cao vai trò văn học trong sống con người đồng thời nhắc nhở người sáng tác và bạn đọc cần có sự đồng điệu để tác phẩm văn học tiếp thêm sức mạnh cho cuộc đời. Chứng minh Tác phẩm nghệ thuật nào cũng xây dựng bằng những vật liệu mượn ở thực tại. Nhưng nghệ sĩ không những ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói một điều gì mới mẻ

văn học vị nhân sinh